Saturday, July 28, 2012

Vệ tinh Việt Nam cập trạm vũ trụ


Tàu vận tải mang F-1, vệ tinh nhỏ tự chế của Việt Nam, đã lắp ghép thành công với Trạm Vũ trụ quốc tế (ISS) tối qua, sau một tuần bay trong không gian.


Cánh tay robot nắm lấy tàu vận tải HTV-3 và đưa lại lắp ghép với trạm ISS. Ảnh chụp từ màn hình của NASA.


Sau 6 ngày phóng lên quỹ đạo, 21h40 hôm qua giờ Hà Nội, tàu vận tải HTV-3 đã tiếp cận ISS. Khi tàu vận tải ở khoảng cách 10 m so với trạm, quá trình lắp ghép bắt đầu diễn ra. 19h20, cánh tay robot của trạm tóm lấy tàu vận tải.

Sau khi tàu vận tải kết nối, F-1 sẽ được chuyển ra khoang điều áp của một mô-đun trên trạm. Vào tháng 9, phi hành gia người Nhật Akihiko Hoshide điều khiển cánh tay robot, nắm lấy ống phóng có chứa 5 vệ tinh đưa ra bên ngoài, hướng xuống phía mặt đất và thả.

Kể từ đó, vệ tinh "made in Vietnam" sẽ bắt đầu hoạt động. Từ trạm điều khiển mặt đất đặt tại Hà Nội, nhóm FSpace sẽ theo dõi F-1, đưa ra các lệnh như chụp ảnh hoặc thu thập dữ liệu.
Tàu vận tải tiếp cận ISS
Quá trình gắp ghép vào ISS


Tàu vận tải lắp ghép thành công ISS. Ảnh chụp từ màn hình của NASA.


Vệ tinh F-1 được tàu vận tải đưa vào không gian hôm 21/7 từ trung tâm phóng vệ tinh của Cơ quan hàng không vũ trụ Nhật Bản (JAXA). Vệ tinh do Phòng nghiên cứu không gian (Fspace) thuộc Đại học FPT chế tạo từ năm 2008.

F-1 đã trải qua nhiều giai đoạn thử nghiệm khắt khe của JAXA và Cơ quan hàng không vũ trụ Mỹ (NASA) để chứng minh đủ tiêu chuẩn lên không trung. Ông Vũ Trọng Thư, người đứng đâu dự án vệ tinh F-1, cho biết vệ tinh này cũng phải cạnh tranh mới có được chỗ trên tàu vận tải.

Việc đưa các vệ tinh, trong đó có F-1 lần này, vào vũ trụ được thực hiện theo phương pháp mới. Khác với cách truyền thống là nhờ tên lửa đẩy vệ tinh vào quỹ đạo, F-1 và các vệ tinh nhỏ đồng hành được đưa lên trạm ISS, rồi từ trạm mà vào không gian.

Mục tiêu của dự án F-1 là vệ tinh sống được trong không gian, phát tín hiệu về trạm điểu khiển của Fspace, chụp được ảnh độ phân giải thấp và truyền dữ liệu về với tốc độ 1.200 bit/giây.

F-1 mang theo một lá cờ Việt Nam thu nhỏ, huy hiệu kỷ niệm của một số tổ chức đã giúp đỡ thực hiện dự án và thẻ nhớ chứa tên và lời nhắn của 7.529 người cùng với những hình ảnh về đất nước, con người Việt Nam, một số bài hát tiếng Việt.

Với việc phóng F-1, trong tương lai Việt Nam có thể làm chủ công nghệ vũ trụ và hướng tới ứng dụng trong thực tế như giám sát tàu thuyền trên Biển Đông, phòng chống nạn xả trộm dầu trên biển, hỗ trợ công tác tìm kiếm cứu nạn, phát hiện cháy rừng hay phục vụ các nhu cầu viễn thông, viễn thám khác.

Hương Thu

Thursday, July 19, 2012

Dập đám cháy bằng loa


Các nhà khoa học của Bộ Quốc phòng Mỹ nảy ra ý tưởng sử dụng sóng âm thanh để chống hỏa hoạn.

DARPA đã khống chế thành công những đám cháy nhỏ trong không gian kín bằng âm thanh và trường điện từ. Ảnh: freefoto.com.


Hỏa hoạn trong những không gian kín như máy bay, xe tăng, tàu chiến luôn là mối họa lớn đối với mọi quân đội. Cơ quan Các dự án nghiên cứu cao cấp (DARPA) của Bộ Quốc phòng Mỹ nảy ra ý tưởng trị lửa bằng âm thanh từ năm 2008. Họ lập ra chương trình mang tên Instant Fire Suppression (Khống chế hỏa hoạn tức thời) để biến ý tưởng thành hiện thực, BBC đưa tin.

"Về phương diện vật lý, lửa là một dạng plasma lạnh. DARPA cho rằng con người có thể dập tắt ngọn lửa bằng các kỹ thuật vật lý. Chúng tôi chọn hai phương pháp: sử dụng trường điện từ và âm thanh", DARPA thông báo trên trang web của họ.

Để sử dụng trường điện từ, các nhà nghiên cứu chế tạo một cực điện cầm tay để khống chế những đám cháy nhỏ phát sinh từ khí metan và nhiên liệu lỏng. Song đối với những ngọn lửa lớn hơn, họ sử dụng các loa to.

"Trường âm thanh làm tăng tốc độ di chuyển của không khí. Tốc độ di chuyển của không khí càng lớn thì việc dập lửa càng dễ dàng. Ngoài ra âm thanh còn làm xáo trộn bề mặt nhiên liệu lỏng khiến quá trình bốc hơi diễn ra nhanh hơn. Tốc độ bốc hơi càng lớn thì ngọn lửa lan càng rộng. Do âm thanh cũng làm tăng tốc độ di chuyển của không khí nên khi lửa lan rộng, nhiệt độ của nó càng giảm - một yếu tố khiến đám cháy dễ tắt hơn", trang web giải thích.

Dù dập được những đám cháy nhỏ trong thử nghiệm bằng trường điện từ và âm thanh, các nhà nghiên cứu của DARPA thừa nhận rằng họ phải chờ thêm một thời gian dài nữa để biến lý thuyết thành ứng dụng thực tiễn.

"Chúng tôi đã chứng minh rằng lĩnh vực chống cháy vẫn còn nhiều điều thú vị. Có lẽ những thành tựu mà chúng tôi đã đạt được sẽ dẫn tới những ý tưởng và ứng dụng mới trong nghiên cứu về chống hỏa hoạn", Matthew Goodman, giám đốc chương trình Instant Fire Suppression, bình luận.

Minh Long

Việt Nam có trên 9,000 giáo sư, phó giáo sư mà không có được một bằng sáng chế đăng ký ở Mỹ.


Bản tin của báo DÂN TRÍ , VIỆT NAM

Việt Nam có 9,000 giáo sư và phó giáo sư và hàng ngàn tiến sĩ và thạc sĩ mà trong năm 2011 không có được một bằng sáng chế đăng ký ở Mỹ.

Việt Nam không có bất cứ bằng sáng chế nào được đăng ký tại Mỹ trong năm 2011. Ảnh minh họa.
Một chỉ số quan trọng và khách quan để đánh giá thành tựu khoa học của một nước là số bằng sáng chế. Số bằng sáng chế không chỉ phản ánh hiệu quả thực tiễn của các kết quả nghiên cứu lý thuyết, mà còn cho biết tiềm lực về nghiên cứu ứng dụng. Thực tế cho thấy những nước có nhiều bằng sáng chế thì thường xuất khẩu những sản phẩm công nghệ cao và thu được nhiều lợi nhuận.
Bằng sáng chế là hình thức sở hữu trí tuệ. Nó bao gồm một tập hợp các quyền độc quyền được cấp bởi một nhà nước có chủ quyền cho một nhà phát minh, hoặc nhận chuyển nhượng của họ trong một khoảng thời gian giới hạn để đổi lấy việc công bố công khai một kết quả sáng chế. Trong bài viết này, người viết chỉ đề cập bằng sáng chế Mỹ (US patent) bởi uy tín của nó.
Để bảo đảm tính “khách quan”, người viết không thống kê số bằng sáng chế Mỹ của chính nước Mỹ. Bài viết chỉ đề cập số bằng sáng chế Mỹ trong năm 2011, và được trích lục từ Văn phòng thương hiệu và bằng sáng chế Mỹ (USPTO). Dữ liệu về dân số và thu nhập được lấy từ BBC.
Theo thống kê, Nhật Bản là nước đứng đầu với 46139 bằng sáng chế, kế đến là Hàn Quốc với 12262 bằng sáng chế. Điều đáng lưu ý là Trung Quốc được xếp thứ 8 với 3174 bằng sáng chế; trong năm 2010, Trung Quốc cũng được xếp thứ 8 với 2657 bằng sáng chế.
Bảng 1: Nhóm 10 nước dẫn đầu (trừ Mỹ):
Hạng
Nước
Dân số (triệu)
Số bằng sáng chế 2011
1
Nhật Bản
126.9
46139
2
Hàn Quốc
48.9
12262
3
Đức
82.1
11920
4
Đài Loan
23
8781
5
Canada
34.3
5012
6
Pháp
62.6
4531
7
Vương Quốc Anh
62.4
4307
8
Trung Quốc
1,350
3174
9
Israel
7.3
1981
10
Úc
21.5
1919
(Trung Quốc: không tính Hồng Kông và Ma Cao)
Trong khu vực Đông Nam Á, đất nước nhỏ bé Singapore với 4.8 triệu dân có 647 bằng sáng chế (một đất nước xa xôi ở Bắc Âu với dân số tương đương, Phần Lan với 5.3 triệu dân cũng có 951 bằng sáng chế). Đứng thứ hai là Malaysia với 161 bằng sáng chế. Trong khi đó, Việt Nam không có bằng sáng chế nào đăng kí ở Mỹ trong năm 2011.
Bảng 2: Nhóm vài nước Đông Nam Á:
Hạng
Nước
Dân số (triệu)
Số bằng sáng chế 2011
1
Singapore
4.8
647
2
Malaysia
27.9
161
3
Thái Lan
68.1
53
4
Philippines
93.6
27
5
Indonesia
232
7
6
Brunei
0.407
1
7
Việt Nam
89
0
Trong bối cảnh Việt Nam phải hội nhập với thế giới bên ngoài về mọi mặt, đặc biệt là về khoa học và công nghệ, kết quả thống kê trên thật sự đáng ngại cho khoa học Việt Nam. Chia sẽ vấn đề này, PGS. Phạm Đức Chính (Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam) cho biết: “Nghiên cứu cơ bản của Việt Nam chúng ta so sánh trong khu vực, trên cơ sở thống kê công bố quốc tế ISI, thua kém khá xa so với Singapore, Malaysia và Thái Lan. Về mặt công nghệ, ứng dụng thì tình hình còn tệ hơn, như theo một chỉ số quan trọng mà thống kê này cho thấy. Nếu như cứ cho rằng tiềm năng thực của chúng ta không tệ tới mức như vậy, thì năng lực hội nhập của chúng ta lại còn yếu hơn nữa. Mà yếu tố sống còn và đi lên của Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh mọi mặt hiện nay, là chúng ta phải hội nhập được với thế giới.
Tuy nhiên, một thực tế là vấn đề tác quyền ở Việt Nam chưa được xem trọng một cách đúng mức. GS. Nguyễn Đăng Hưng (nguyên Trưởng khoa Cơ học phá hủy, Đại học Liège, Bỉ) chia sẻ: "Tôi không ngạc nhiên về những con số thống kê mà các tác giả đã có công tra cứu tham khảo. Bằng sáng chế là thước đo đẳng cấp công nghệ kỹ thuật của một nước. Việt Nam kém cỏi về công bố quốc tế về khoa học. Nhưng tụt hậu về khâu công nghệ kỹ thuật, không có bằng sáng chế đăng ký thì quả là trầm trọng hơn”.
Nguyên nhân vì đâu?
Đã đến lúc các nhà quản lí khoa học ở Việt Nam phải nhìn nhận lại thực tế yếu kém của khoa học Việt Nam, đặc biệt là các khoa học ứng dụng. So với các nước trong khu vực thì Việt Nam có số lượng tiến sĩ rất lớn, nhưng thành tựu khoa học của Việt Nam, cụ thể là số bằng sáng chế đăng ký ở Mỹ, quá yếu kém như thế thì quả là một thực tế khó chấp nhận. Đã đến lúc, Nhà nước và các nhà khoa học phải có một nhận thức chung về nguyên nhân và cách khắc phục sự yếu kém trên.
Là người có nhiều nghiên cứu về khoa học Việt Nam, GS. Nguyễn Văn Tuấn (Viện nghiên cứu Y khoa Garvan và ĐH New South Wales) đã chỉ ra một số lý do mà theo quan điểm của cá nhân ông là nguyên nhân dẫn tới tình trạng này:
"Tôi không ngạc nhiên với số bằng sáng chế của Việt Nam được đăng kí ở Mĩ. Trong một bài trước đây, tôi trích dữ liệu từ báo cáo của UNESCO cho thấy trong thời gian 2000 - 2007, các nhà khoa học Việt Nam chỉ đăng kí được 19 bằng sáng chế, tức mỗi năm trung bình chỉ 2 bằng sáng chế. Có năm (như 2002) không có bằng sáng chế nào được đăng kí. Do đó, năm 2011 không có bằng sáng chế từ Việt Nam được đăng kí cũng có thể xem là chuyện… bình thường.
Nhưng một điều không bình thường là với một đội ngũ trên 9.000 giáo sư và phó giáo sư, và hàng trăm ngàn tiến sĩ và thạc sĩ mà không có bằng sáng chế đăng kí. Càng không bình thường khi chúng ta so sánh với Thái Lan (có ít giáo sư và tiến sĩ hơn ta) khi trong cùng thời gian 2000-2007 đã có đến 310 bằng sáng chế. Có thể nói rằng trong các nước Đông Nam Á (ngoại trừ Lào, Kampuchea và Miến Điện) Việt Nam có số bằng sáng chế thấp nhất.
Nhưng tôi nghĩ con số bằng sáng chế không có nghĩa là khả năng sáng tạo của người Việt thấp. Tôi nghĩ khả năng sáng tạo của người Việt không kém bất cứ ai; chỉ cần nhìn qua sự thành công của các chuyên gia gốc Việt ở nước ngoài thì biết nhận xét đó không quá đáng. Tôi nghĩ con số đó phản ảnh khả năng hội nhập khoa học và công nghệ của Việt Nam chưa cao, và thiếu tầm trong quản lí khoa học. Trong thực tế, các nhà lãnh đạo khoa học ở Việt Nam chưa quan tâm đến vấn đề đăng kí bằng sáng chế, vì họ vẫn còn loay hoay với những thủ tục hành chính. Có người còn chưa biết thủ tục để đăng kí ra sao!
Cũng cần nói thêm rằng Việt Nam chưa có một cơ chế để hỗ trợ và phụ trách đăng kí sáng chế. Theo tôi biết, Việt Nam còn thiếu những luật sư có kinh nghiệm trong việc đăng kí bằng sáng chế và sở hữu trí tuệ. Nhà khoa học thì chắc chưa chắc có khả năng tài chính để tự đăng kí, mà dù cho có khả năng tài chính thì không có luật sư cũng khó làm được. Trong khi đó, các đại học còn chưa quan tâm đến nghiên cứu khoa học, thì họ đâu có thì giờ quan tâm đến việc đăng kí bằng sáng chế.
Ngoài ra, nhiều nghiên cứu khoa học (tôi chỉ nói trong lĩnh vực y khoa) thường tập trung vào những chủ đề khó có thể đăng kí bằng sáng chế. Nghiên cứu y khoa thường chia thành 3 loại: me too, incremental knowledge, và breakthrough. Nghiên cứu me too (bắt chước) có nghĩa là những nghiên cứu bắt chước người khác ở môi trường Việt Nam, không cho ra một phương pháp hay phát hiện gì mới, chủ yếu là để học nghề.
Nghiên cứu mang tính incremental knowledge là những nghiên cứu có đóng góp vào tri thức khoa học, nhưng mức độ đóng góp tương đối khiêm tốn (như phát triển phương pháp mới, phát hiện mới, cách tiếp cận mới,…) Các công trình breakthrough hay đột phá có nghĩa là những nghiên cứu định ra một trường phái mới, định nghĩa một lĩnh vực mới. Hầu hết những nghiên cứu từ Việt Nam là me too nên khó có thể phát triển cái gì mới để có thể đăng kí bằng sáng chế.
Những lí do trên có thể giải thích tại sao Việt Nam chúng ta có mặt rất khiêm tốn trong bản đồ sáng tạo tri thức mới và bằng sáng chế".
Theo TS. Lê Văn Út - TS. Thái Lâm Toàn

Saturday, July 14, 2012

Australia tặng Việt Nam thiết bị khôi phục dữ liệu


Đại diện Cảnh sát Australia vừa tặng Cục C50, Bộ Công an Việt Nam, hai bộ thiết bị nâng cấp phần mềm phục hồi dữ liệu và chứng cứ điện tử trị giá 52.000 USD.
Ngày 12/7, Tổng cục Cảnh sát phòng chống tội phạm, Bộ Công an do Thiếu tướng Trần Trọng Lượng, Phó Tổng cục trưởng làm trưởng đoàn đã làm việc với Đoàn Cảnh sát liên bang Australia do ông Richard Terry, Trưởng sỹ quan liên lạc Cảnh sát liên bang Australia tại Hà Nội làm trưởng đoàn.
Ảnh minh họa
Ảnh minh họa
Tại buổi làm việc, đại diện Cảnh sát liên bang Australia đã tặng Cục C50 hai bộ thiết bị nâng cấp phần mềm phục hồi dữ liệu và chứng cứ điện tử trị giá 52.000 USD. Việc tài trợ này phản ánh sự hợp tác chặt chẽ giữa Cảnh sát Việt Nam và Cảnh sát Liên bang Australia đồng thời là một thông điệp mạnh mẽ về sự hợp tác quốc tế trong công tác đấu tranh chống tội phạm mạng.
Thay mặt Tổng cục Cảnh sát phòng chống tội phạm, Thiếu tướng Trần Trọng Lượng cảm ơn Cảnh sát liên bang Australia đã hỗ trợ cho cảnh sát Việt Nam phần mềm trên và mong muốn trong thời gian tới quan hệ hợp tác giữa hai bên tiếp tục được đẩy mạnh
Trước đây, Cảnh sát liên bang Australia đã hỗ trợ cho Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao (C50) Việt Nam một số trang thiết bị kỹ thuật và phần mềm chuyên dụng để phục vụ công tác khai thác, phục hồi dữ liệu điện tử.
Theo CAND